Hoạt động tình nghĩa
Liên kết công an các tỉnh

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 130 năm ngày sinh cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban Thường trực Quốc hội (19/9/1889 - 19/9/2019) 12/09/2019

I. TÓM TẮT TIỂU SỬ - QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CỤ BÙI BẰNG ĐOÀN

Cụ Bùi Bằng Đoàn sinh ngày 19/9/1889 trong một gia đình nhà nho tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội) - làng quê có truyền thống văn hiến, với những danh nhân khoa bảng được ghi trong sử sách. Ông nội là Tiến sĩ Bùi Tuấn, hàm Thái tử Thiếu bảo, từng là giám khảo các kỳ thi Hương, giữ chức Tả Tham tri Bộ Binh kiêm Tổng đốc tỉnh Bắc Ninh. Cha là Bùi Tập từng giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa (một tỉnh cũ dưới thời Pháp thuộc). Do cha mẹ đều mất sớm, ngay từ nhỏ, Bùi Bằng Đoàn được người chú dượng là Dương Lâm (tức cụ Thiếu bảo Vân Đình lúc đó làm Tham tri Nha Kinh lược Bắc Kỳ) đưa về nuôi dưỡng và dạy học chữ Hán.

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN 50 NĂM THỰC HIỆN DI CHÚC CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 07/08/2019

I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI, NỘI DUNG, GIÁ TRỊ CỦA DI CHÚC
1. Hoàn cảnh ra đời
-Năm 1965nhân dịp sinh nhật lần thứ 75, vào lúc 9 giờ sáng ngày 10/5/1965 Bác viết bản Di chúc với tiêu đề "Tuyệt đối bí mật" gồm ba trang, do chính Bác đánh máy, ở cuối đề ngày 15/5/1965. Đây là bản Di chúc hoàn chỉnh có chữ ký của Bác và bên cạnh có chữ ký của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
 

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI NĂM 2018, NHIỆM VỤ NĂM 2019 05/08/2019

I. TÌNH HÌNH THIÊN TAI TRÊN THẾ GIỚI, KHU VỰC VÀ VIỆT NAM
1. Thế giới và khu vực
Năm 2018, thiên tai trên thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp với 281 trận thiên tai, trong đó: 108 trận lụt, lũ quét; 20 trận động đất, sóng thần và nhiều loại hình thiên tai khác; thiệt hại kinh tế ước tính 146 tỷ USD.
Các loại hình thiên tai liên quan đến khí hậu chiếm tỷ lệ lớn trong năm 2018, như: Lũ lụt đồng thời trên 283 con sông/23 tỉnh của Trung Quốc làm 99 người chết, mắt tích, hơn 23 triệu người bị ảnh hưởng, thiệt hại ước tính 3,87 tỉ USD; lũ lụt tại Ấn Độ làm 1.029 người chết; lũ, lũ quét, sạt lở đất ở miền Nam Nhật Bản gây vỡ đê làm trên 235 người chết và mất tích; siêu bão tại Hoa Kỳ thiệt hại 32 tỷ USD; 02 trận sóng thần tại Indonesia làm 3.258 người chết và mắt tích, 1.485 người bị thương; mưa lớn gây vỡ đập trên sông Mê Kông tại Lào làm 158 người chết và mất tích, ảnh hưởng đến hơn 7.000 hộ dân; nắng nóng, hạn hán lịch sử ở Châu Âu, Nam Mỹ, Úc, Nam Phi và nhiều nơi trên thế giới.
2. Việt Nam
Tại Việt Nam, thiên tai năm 2018 không diễn ra dồn dập và khốc liệt như năm 2017 nhưng vẫn là năm có nhiều thiên tai lớn cùng những yếu tố cực đoan, dị thường diễn ra trên khắp các vùng miền trên cả nước với 16/21 hình thái thiên tai, cụ thể: 14 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, 212 trận giông, lốc sét; 15 trận lũ, lũ quét, sạt lở đất lớn; 09 đợt gió mạnh trên biển; 04 đợt rét đậm, rét hại; 11 đợt nắng nóng, 23 đợt không khí lạnh; 30 đợt mưa lớn trên diện rộng; lũ thượng nguồn sông Cửu Long kéo dài và ở mức cao nhất kể từ năm 2011; triều cường vượt mốc lịch sử tại một số tỉnh Nam Bộ; sạt lở bờ sông, bờ biển diễn ra nghiêm trọng tại đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ven biển miền Trung.
Thiệt hại do thiên tai gây ra đã giảm nhiều so với những năm gần đây, cụ thể năm 2018 có: 224 người chết và mất tích (92 người do mưa lũ (chiếm 41%); 82 người do lũ quét, sạt lở đất (chiếm 37%); 50 người do các thiên tai khác (chiếm 22%)); 1.967 nhà bị đồ, trôi; 31.335 nhà bị ngập, hư hỏng và đi dời khẩn cấp; 261.377 ha lúa và hoa màu bị ngập, thiệt hại; 43.159 ha cây công nghiệp, cây ăn quả bị đổ, gấy; 29.400 con gia súc và 774.427 con gia cầm bị chết; 11.900 ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; 884 km đê, kè, kênh mương, bờ bao và 8,4 triệu m3 đất đá đường quốc lộ, tỉnh lộ và đường giao thông nông thôn bị sạt trượt; hơn 86 km bờ sông, bờ biển bị sạt lở; 107 tầu thuyền bị chìm do bão, áp thấp nhiệt đới trong tổng số 467 tầu, thuyền bị chìm. Tổng thiệt hại về kinh tế ước tính gần 20.000 tỷ đồng.
Bên cạnh những thiệt hại về vật chất nêu trên, thiên tai cũng đã làm đình trệ sản xuất, cản trở giao thương, làm gián đoạn việc cung cấp dịch vụ thiết yếu tại nhiều khu vực, nhất là khu vực Bắc Trung Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long,
Những tháng đầu năm 2019, thiên tai đã xảy ra ở khắp các vùng miền trên cả nước: mưa lớn cực đoan, mưa đá, giông lốc, sạt lở bờ sông, bờ biển... nhất là tại khu vực miền núi phía Bắc, gây thiệt hại người và tài sản. Gần đây nhất, từ ngày 25/5 đến ngày 01/6, các tỉnh miền núi phía Bắc đã có mưa to đến rất to, gây lũ, ngập lụt, sạt lở đất, lũ quét tại các tỉnh Quảng Ninh, Cao Bằng, Yên Bái. Thiên tai từ đầu năm đã làm 23 người chết và mắt tích (lốc sét 13; mưa lũ, sạt lở đất 08, bão 02); 36 người bị thương và thiệt hại lớn về hoa màu, tài sản của nhân dân.
II. CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI
1. Những kết quả đạt được
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo: Sự quan tâm sâu sắc, chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả của lãnh đạo đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thông qua việc ban hành 03 Nghị quyết, 07 Công điện và trực tiếp chỉ đạo tại hiện trường khi xảy ra thiên tai lớn, phức tạp.
+ Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành tài liệu tuyên truyền và chỉ đạo ban tuyên giáo các tỉnh, thành, các cơ quan thông tấn báo chí về công tác phòng, chống thiên tai (PCTT).
Ban tuyên giáo các tỉnh, thành đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng làm tốt công tác thông tin tại cơ sở. Các hoạt động thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng được đây mạnh và có nhiều cải tiến với nhiều hình thức phong phú, hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ các phương tiện hiện đại (phát thanh, truyền hình, website, facebook, tin nhắn viber, SM) với các công cụ truyền thống (loa phóng thanh, loa cầm tay, cồng chiêng, tù và, trống phách vv...); tần suất cung cấp thông tin được tăng lên nhiều lần, phản ánh kịp thời các diễn biến và công tác chỉ đạo ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
+ Các bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai, nghiêm túc thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo trong công tác phòng, chống thiên tai. Đến nay có 51/63 tỉnh và 18/22 bộ, ngành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 76/NQ-CP của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai; các tỉnh, thành phố trên cả nước đã tích cực xây dựng, phê duyệt kế hoạch phòng, chống thiên tai, phương án ứng phó với cấp độ rủi ro thiên tai và triển khai Quỹ Phòng, chống thiên tai tăng thêm nguồn lực phục vụ có hiệu quả công tác PCTT của địa phương.
+ Chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở và người dân thường xuyên được cung cấp thông tin về dự báo, cảnh báo, hướng dẫn kỹ thuật ứng phó; nhiều nơi được đào tạo, tập huấn, diễn tập nên nhận thức đầy đủ hơn từ công tác phòng ngừa đến ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.
+ Công tác rà soát, xây dựng, điều chỉnh, ban hành văn bản quy phạm pháp luật PCTT được quan tâm chỉ đạo (Nghị định số 160/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 quy định chỉ tiết hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống thiên tai; Sửa đổi Nghị định 94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định về thành lập và quản lý Quỹ Phòng, chống thiên tai; xây dựng Nghị định về tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ quốc tế để cứu trợ khẩn cấp và khắc phục hậu quả thiên tai), tạo hành lang pháp lý, tăng nguồn lực cho công tác PCTT đẻ triển khai công tác PCTT phù hợp với thực tế và đi vào cuộc sống.
-Tổ chức bộ máy phòng chống thiên tai đặc biệt là cơ quan điều phối liên ngành ở Trung ương (Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai) đã được kiện toàn lên một tầm cao mới do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban và sự tham gia của người đứng đầu các bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; quy chế, kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và tìm kiếm Cứu nạn các cấp được ban hành và triển khai thực hiện hiệu quả, hoạt động bài bản, nghiêm túc.
- Công tác dự báo, cảnh báo đã có những tiến bộ nhất định, cơ quan dự báo quốc gia đã ban hành các bản tin dự báo đến cấp huyện, thường xuyên cập nhật bổ sung tình hình diễn biến thiên tai phục vụ công tác chỉ đạo điều hành ứng phó; hệ thống quan trắc cảnh báo chuyên dùng sau khi Luật Khí tượng thủy văn có hiệu lực đã bước đầu hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả.
- Công tác phòng ngừa thiên tai đã được triển khai sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở với nhiều hình thức phù hợp, hiệu quả
+ Ứng dụng khoa học công nghệ vào việc theo dõi, giám sát, chia sẻ thông tin, phổ biến các kỹ năng ứng phó với các loại hình thiên tai đến các cấp chính quyên, người dân, cộng đồng để chủ động phòng, chống có hiệu quả; năng lực của cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc về phòng, chống thiên tai (Văn phòng thường trực) ở Trung ương và địa phương đã được nâng lên một bước theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả; hệ thống cơ sở dữ liệu, công cụ hỗ trợ ra quyết định được cập nhật bổ sung: việc điều phối hoạt động, trao đôi thông tin, cung cấp dụng cụ, trang thiết bị, hỗ trợ thành viên Ban Chỉ đạo, Ban Chỉ huy trong thực thi nhiệm vụ được tăng cường.
+ Công tác truyền thông, đào tạo, tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng được triển khai mạnh mẽ, thường xuyên, có chiều sâu, đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức, hướng đến cơ sở, người dân và cộng đồng với sự vào cuộc tích cực và phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí từ Trung ương đến cơ sở.
+ Công tác chuẩn bị trước thiên tai đã được quan tâm với nhiều hoạt động thiết thực được triển khai, điển hình như: diễn tập; lồng ghép xây dựng cộng đồng an toàn với xây dựng nông thôn mới bền vững; xây dựng mô hình đội xung kích PCTT tại một số địa phương trọng điểm; trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn; sửa chữa, nâng cấp hồ chứa; tu bổ, nâng cấp; sử dụng camera giám sát, theo dõi tuyến đê điều trọng yếu, công trình PCTT; xây dựng tỉnh kiểu mẫu về PCTT tại Thừa Thiên Huế để triển khai nhân rộng.
Bên cạnh đó các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ĐCTIT tiếp tục được quan tâm, triển khai và hoàn thành góp phần nâng cao năng lực phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.
-Công tác ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai được triển khai chủ động, kịp thời và hiệu quả
+ Sự vào cuộc chủ động, quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, người dân, cộng đồng. Chính phủ, Ban Chỉ đạo đã ra 67 Công điện và văn bản chỉ đạo; Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Ban Chỉ đạo trực tiếp đến hiện trường chỉ đạo khi xảy ra các thiên tai lớn.
+ Sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương xử lý, ứng cứu kịp thời, hiệu quả các sự cố công trình PCTT ngay từ giờ đầu, đặc biệt là các công trình đê điều, hồ đập, giao thông, lưới điện, thông tin liên lạc.
+ Sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong tổ chức tốt việc ứng cứu, xử lý các sự có đê điều, hồ đập, giao thông, thủy lợi, sạt lở bờ sông, bờ biển.
+ Huy động, triển khai kịp thời các lực lượng tham gia ứng phó và tìm kiếm cứu nạn trong các tình huống thiên tai.
+ Công tác khắc phục hậu quả sau thiên tai được Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo và đầu tư nguồn lực; các tổ chức xã hội, cộng đồng, doanh nghiệp kịp thời hỗ trợ góp phần giúp đồng bào các tỉnh khắc phục nhanh chóng hậu quả thiên tai. Năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định hỗ trợ 9.461 tỷ đồng từ dự phòng ngân sách Trung ương và huy động 36 triệu USD từ nguồn ODA; hỗ trợ 5.705 tắn gạo cứu đói, 1.234 tấn giống, hạt giống các loại cùng nhiều hỗ trợ khác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
-Khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đi vào chiều sâu, ứng dụng trong thực tiễn
+ Ứng dụng sâu rộng các công nghệ tiên tiến trong theo dõi, cảnh báo thiên tai; giám sát trực tuyến; sử dụng máy bay không người lái trong điều tra, khảo sát, tìm kiếm, cứu nạn; quản lý cơ sở dữ liệu bằng GIS, điện thoại thông minh,...; ứng dụng, phát triển công nghệ mới, tiên tiến trong xây nhà chống bão, sản xuất đê đi động, thiết bị giám sát tàu cá chỉ phí thấp, thiết bị chằng chống nhà cửa thông minh; thiết bị cảnh báo sớm lũ tại sông suối, ngầm tràn, phòng, chống sạt lở bờ biển chỉ phí thấp, thân thiện môi trường: giám sát bằng hình ảnh tại các vị trí xung yếu, trung tâm chỉ đạo, điều hành PCTT.
+ Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong khuôn khổ các thỏa thuận Việt Nam tham gia như: Khung hành động SENDAI, hiệp định ASEAN, diễn đàn APEC, ARF, Ủy ban Bão quốc tế,...; Phối hợp chặt chẽ với các định chế tài chính và tổ chức đa phương như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, các cơ quan của Liên Hiệp quốc, JICA, GIZ,... để tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính, nhân lực cho công tác PCTT, đặc biệt là trong lĩnh vực phòng, chống lũ quét, sạt lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển, quản lý lũ, hạn hán, xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long.
2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a. Tồn tại, hạn chế:
- Hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật trong lĩnh vực PCTT còn nhiều khoảng trống và tồn tại bất cập ảnh hưởng đến việc triển khai, áp dụng trên thực tế.
- Tổ chức bộ máy PCTT còn thiếu đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác PCTT còn hạn chế, còn thiếu các công cụ hỗ trợ các điều kiện bảo đảm để thực thi nhiệm vụ, nhất là khi triển khai công tác thực địa tại hiện trường, một số tình huống có thể nguy hiểm tới tính mạng, tài sản.
- Các chế tài xử lý vi phạm trong phòng chống, thiên tai còn thiếu và chưa đủ mạnh, nhất là kiểm soát an toàn thiên tai đối với công trình hạ tầng, khu đô thị, khu dân cư tập trung, đường giao thông xây dựng mới. Kiểm soát khai thác khoáng sản, nhất là khai thác cát, sỏi, xây dựng lắn chiếm lòng sông, bãi sông còn nhiều bất cập.
- Quy trình tiếp nhận viện trợ, phục vụ cứu trợ khẩn cấp và khắc phục hậu quả thiên tai còn phức tạp, không kịp thời, hiệu quả sử dụng chưa cao, việc huy động nguồn lực, tổ chức khắc phục hậu quả còn chậm, nhất là quản lý sử dụng kinh phí hỗ trợ từ dự phòng ngân sách của Trung ương. Một số địa phương sử dụng kinh phí hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai còn chậm trễ, lúng túng, thậm chí có nơi chưa đúng mục đích, hiệu quả chưa cao.
- Cơ chế, chính sách trong xã hội hóa công tác PCTT còn hạn chế, chưa thu hút sự tham gia tích cực của khối tư nhân vào hoạt động PCTT. Việc ban hành chính sách về bảo hiểm rủi ro thiên tai còn chậm chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra.
- Hệ thống cơ sở dữ liệu, trang thiết bị và công cụ hỗ trợ ra quyết định của cơ quan tham mưu PCTT (Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo, Ban chỉ huy) từ Trung ương đến các địa phương, còn chưa đầy đủ, đồng bộ. Ứng dụng khoa học công nghệ 4.0 trong PCTT còn hạn chế. Chưa có Trung tâm chỉ đạo điều hành ứng phó thiên tai chuyên nghiệp ngang tầm các nước trong khu vực; việc kết nối và giám sát trực tuyến còn thiếu đồng bộ.
- Kinh phí cho công tác PCTT chưa được quy định cụ thể trong danh mục ngân sách nhà nước. Nguồn lực đầu tư cho công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai đã được cải thiện song so với yêu cầu thực tiễn đặt ra còn nhiều hạn chế, chủ yếu tập trung cho khắc phục khẩn cấp, ngắn hạn nhưng cũng chưa đáp ứng nhu cầu, nhất là về đê điều, sạt lở bờ sông, bờ biển, di dân, dẫn đến việc xử lý khắc phục hậu quả thiên tai còn chậm, kéo dài, không dứt điểm. Việc tìm kiếm nguồn ODA phục vụ công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 321/TB-TTg ngày 24/8/2018 thực hiện chưa đạt yêu cầu.
- Công tác dự báo, cảnh báo chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong điều kiện diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp, khó lường, còn thiếu những quy định cụ thể phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành ứng phó trong các tình huống khẩn cấp. Hợp tác chia sẻ thông tin với các nước thượng nguồn trên các hệ thống sông lớn, trên biển Đông còn hạn chế, nhất là trong tình huống xả lũ khẩn cấp và thiên tai có diễn biến phức tạp.
- Công tác thông tin, tuyên truyền chưa được tổ chức thực hiện thường xuyên, bài bản, thiếu kịp thời nhất là đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế.
b. Nguyên nhân
- Khách quan: Biến đôi khí hậu với biêu hiện bắt thường, trái quy luật, thiên tai ngày càng gia tăng, sức chống chịu của cơ sở hạ tầng còn thấp; năng lực dự báo, cảnh báo còn nhiều hạn chế, hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn, cơ sở dữ liệu, trang thiết bị của cơ quan PCTT còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
+ Nước ta có bờ biển dài, mạng lưới sông ngòi dày đặc, địa hình chia cắt khí hậu các vùng miền có sự khác biệt lớn, kinh tế - xã hội phát triển nhanh tiềm ẩn nhiều yếu tố làm gia tăng rủi ro thiên tai.
+ Việc khai thác tài nguyên nước ở thượng nguồn sông Hồng, sông Mê Kông làm thay đổi các quy luật tự nhiên, làm gia tăng rủi ro thiên tai khu vực hạ nguồn.
- Chủ quan: Hoạt động của Ban Chỉ đạo, Ban Chỉ huy các cấp còn nhiều hạn chế, chủ yếu là cơ quan thường trực; nhiều Ban Chỉ huy chưa có quy chế, kế hoạch công tác; nhiều thành viên chưa quan tâm đến nhiệm vụ được giao ảnh hưởng đến công tác PCTT); ở cấp huyện, xã lực lượng làm công tác PCTT còn mỏng, nhiều địa phương chưa có đội xung kích cấp xã.
+ Nhận thức của một số bộ, ngành, cấp chính quyền địa phương và cộng đồng ở một số nơi còn hạn chế, chưa thấy hết tính phức tạp, khẩn cấp, tầm quan trọng và còn lơ là, chủ quan, chưa quan tâm đúng mức và lồng ghép công tác PCTT trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng.
+ Bộ phận đông dân cư ở nhiều vùng miền có tập quán sinh sống tập trung dọc hai bên sông, suối, khu vực thấp trũng, vùng có nguy cơ cao sạt lở đất, lũ quét,... nên nguy cơ rủi ro đến tính mạng, tài sản là rất lớn.
+ Tình trạng khai thác tài nguyên quá mức, thiếu kiểm soát vẫn chưa được ngăn chặn hiệu quả, tiếp tục làm gia tăng rủi ro thiên tai.
III. MỘT SỐ NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN TRỌNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI
1.Tiếp tục tuyên truyền quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống thiên tai và những văn bản mới, như: Nghị quyết 71/2018/NQ-QH của Quốc hội về việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; Nghị định 160/NĐ-CP ngày 29/11/2018 quy định chỉ tiết một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai; Nghị quyết 76/NQ-CP ngày 18/6/2018 của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai; Nghị quyết 120/NQ- CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu; triển khai có hiệu quả Đề án cung ứng các dịch vụ truyền hình tuyên truyền về đối ngoại; về phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, hiểm họa phục vụ cộng đồng: về nông nghiệp - nông thôn giai đoạn 2018-2020 (ban hành theo Quyết định 142/QĐ-TTg ngày 31/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ).
- Tập trung tuyên truyền các mục tiêu theo kế hoạch PCTT quốc gia đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ (ban hành kèm theo Quyết định 649-QĐ/TTg ngày 30/5/2019), như: Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, nâng cấp trang thiết bị về PCTT và tìm kiếm cứu nạn; nâng cao năng lực PCTT, giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, nhất là đối với hạn hán, lũ, lũ quét, sạt lở đất, bão, áp thấp nhiệt đới, sạt lở bờ sông, bờ biên; thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, thực hiện đồng bộ các hoạt động PCTT gắn với phát triển kinh tế - xã hội và phát triển của các ngành, nâng cao hiệu quả đầu tư; làm cơ sở đề tổ chức thực hiện các hoạt động PCTT và tìm kiếm cứu nạn.
2.Tuyên truyền các nhiệm vụ, giải pháp công tác phòng, chống thiên tai năm 2019
- Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp trong tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao tại các Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTT; xây dựng các chương trình, đề án, dự án PCTT theo đặc thù từng khu vực, vùng miền.
- Phát huy vai trò của báo chí, lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên trong việc nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các lực lượng xã hội và tầng lớp nhân dân trong PCTT.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách làm cơ sở tổ chức triển khai, thực thi đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả công tác PCTT: Nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật rong các lĩnh vực: sửa đổi các Luật Phòng, chống thiên tai, đê điều; nghị định về khắc phục hậu quả, phục hồi tái thiết sau thiên tai; Quỹ Phòng, chống thiên tai; tiếp nhận, quản `ã và sử dụng viện trợ quốc tế để cứu trợ khân cấp và khắc phục hậu quả thiên tai.
- Kiện toàn tô chức bộ máy và xây dựng quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ huy các cấp phòng, chống thiên tai từ Trung ương đến cơ sở; nâng cao năng lực đội ngũ và cơ quan tham mưu làm công tác PCTT; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác PCTT.
- Tập trung nguồn lực cho công tác PCTT: nguồn lực tài chính; bố trí, sắp xếp ổn định dân cư vùng thiên tai; tổ chức diễn tập ứng phó.
- Nghiên cứu, ứng dụng khoa học sát với thực tiễn để nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo, xác định chỉ tiết cắp độ rủi ro đối với các loại hình thiên tai, đáp ứng yêu cầu PCTT ngày càng cao của xã hội; hợp tác chia sẻ thông tin với các nước trong khu vực và quốc tế.
- Thông tin thường xuyên về tình hình thiên tai, kỹ năng ứng phó, trách nhiệm của người đứng đầu để nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền, người dân, cộng đồng, doanh nghiệp trong PCTT; triển khai các giải pháp phát huy hiệu quả lực lượng dân sự trong ứng phó thiên tai, đặc biệt là năng lực ứng phó tại chỗ ở cơ sở ngay từ giờ đầu. Xây dựng đề án tổng thể về công tác thông tin, truyền thông thiên tai, đảm bảo đáp ứng các nhiệm vụ trước mắt và phù hợp về lâu dài. Ưu tiên bố trí quỹ viễn thông công ích để thực hiện truyền thông trong PCTT, đặc biệt chú trọng vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ, xây dựng các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp quốc gia cho các vùng thường xuyên xảy ra thiên tai; đưa ra các giải pháp tổng thể và áp dụng giải pháp công nghệ, vật liệu mới trong PCTT; ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ 4.0 trong theo dõi, giám sát, phân tích hỗ trợ ra quyết định PCTT, đặc biệt là hoàn thiện khung cơ sở dữ liệu quốc gia về PCTT; Thúc đẩy hợp tác song phương, đa phương, triển khai thiết thực, có hiệu quả và trách nhiệm đối với cam kết quốc tế, khu vực.
- Tập trung chỉ đạo, đôn đốc thực hiện phương châm “4 tại chỗ”, “3 sẵn sàng” của các cấp chính quyền và người dân phù hợp với thực tiễn hiện nay. Tăng cường kiểm tra vi phạm trong lĩnh vực đê điều, thủy lợi; khai thác cát, sỏi lòng sông, bãi sông; quản lý quy hoạch lũ; quy hoạch đất đai; kiểm soát hoạt động kinh tế - xã hội nhằm ngăn chặn gia tăng rủi ro thiên tai.
 

Một số nội dung cần lưu ý về tuyển sinh CAND hệ chính quy tuyển mới năm 2019 04/04/2019

Ngày 18/3/2019, Cục Đào tạo- Bộ Công an đã có hướng dẫn một số nội dung về tuyển sinh Công an nhân dân hệ chính quy tuyển mới năm 2019.

Đề cương tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018 - 2023 10/12/2018

Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Đề cương tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018 - 2023. Công an tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn bản Đề cương.

Phòng chống cháy nổ tại các khu trọ: Ý thức thấp, nguy cơ cao 31/10/2018

Trong những năm gần đây, nhu cầu thuê nhà trọ của người dân trên địa bàn tỉnh tăng cao. Có cầu ắt có cung, các khu nhà trọ được xây dựng ngày càng nhiều, phần nào đáp ứng được nhu cầu chỗ ở, cũng như bảo đảm cho việc lao động, học tập và sinh hoạt đối với người thuê trọ. Song, bên cạnh những mặt tích cực thì còn tồn tại những vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh trật tự, trong đó có vấn đề an toàn cháy, nổ.

Đề cương tuyên truyền Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2018 – 2023 05/10/2018

A. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

I. Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ   

Do Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng triệu tập vào ngày 28/7/1929, tại nhà số 15 phố Hàng Nón, thành phố Hà Nội. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội Đỏ do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đứng đầu. Đại hội thông qua Chương trình, Điều lệ của Công hội Đỏ, quyết định ra Báo Lao động và Tạp chí Công hội Đỏ.                                                                                                                                                                                                                                                                

II. Tên gọi của tổ chức Công đoàn Việt Nam

Công hội Đỏ (1929 - 1935); Nghiệp đoàn Ái hữu (1936 - 1939); Hội Công nhân Phản đế (1939 - 1941); Hội Công nhân Cứu quốc (1941 - 1946); Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1946 - 1961); Tổng Công đoàn Việt Nam (1961 - 1988); Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1988 đến nay).

III. Các kỳ đại hội của Công đoàn Việt Nam  

1. Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ I

Họp từ ngày 01 - 15/01/1950 tại tỉnh Thái Nguyên, Đại hội đã quyết nghị về nhiệm vụ trước mắt của Công đoàn đối với đường lối kháng chiến, kiến quốc của Đảng. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 21 ủy viên chính thức và 04 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên làm Tổng Thư ký.                                                                                               

2.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II

Họp từ ngày 23 - 27/02/1961, tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã thông qua những biện pháp tốt nhất để thực hiện đường lối, chính sách mà Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng đã vạch ra về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Đại hội quyết định đổi tên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thành Tổng Công đoàn Việt NamĐại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 55 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu làm Tổng Thư ký.

3.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ III

Họp từ ngày 11 - 14/02/1974 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội biểu dương những thành tích to lớn của giai cấp công nhân và phong trào công đoàn trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội hơn 10 năm qua và đề ra nhiệm vụ cho công tác công đoàn trong giai đoạn mới. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 72 ủy viên, Ban Thư ký gồm 09 ủy viên. Đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký. Các đồng chí Nguyễn Công Hòa, Trương Thị Mỹ được bầu làm Phó Chủ tịch.

4.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV (nhiệm kỳ 1978 – 1983)

Họp từ ngày 08 - 11/5/1978 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã cụ thể hóa những nhiệm vụ cách mạng của giai cấp công nhân và phong trào công đoàn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng, nhiệm vụ trọng tâm là tập hợp, vận động công nhân lao động hăng hái thi đua lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ hai. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 155 ủy viên, Ban Thư ký gồm 12 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; đồng chí Nguyễn Hộ được bầu là Phó Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.

5.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ V (nhiệm kỳ 1983 – 1988)

Họp từ ngày 16 - 18/11/1983 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đề ra những nhiệm vụ: Đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất trong công nhân, viên chức; phát động phong trào công nhân, viên chức thi đua phục vụ nông nghiệp, đưa nông nghiệp từng bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; lập lại trật tự xã hội trên mặt trận lưu thông phân phối; thực hiện tốt các nhiệm vụ về văn hóa xã hội; tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội; phát triển hợp tác với Công đoàn Lào, Campuchia, Liên Xô và các nước khác trên thế giới, góp phần bảo vệ hòa bình và tiến bộ xã hội. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 155 ủy viên, Ban Thư ký gồm 13 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Phạm Thế Duyệt được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.

Đại hội lần thứ V đã nhất trí lấy ngày 28/7/1929, Ngày Đại hội thành lập Công hội Đỏ Bắc kỳ làm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam.

Tháng 02/1987 đồng chí Phạm Thế Duyệt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Vũ Định được bầu làm Phó Chủ tịch, đồng chí Dương Xuân An được bầu làm Tổng Thư ký.

6.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VI (nhiệm kỳ 1988 – 1993)

Họp từ ngày 17 - 20/10/1988 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ, trong đó hai nhiệm vụ chính là: động viên công nhân, lao động đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hăng hái đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm; chăm lo đời sống, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động. Mục tiêu của Đại hội là “Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội”. Đại hội quyết định đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 155 ủy viên, Ban Thư ký gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch. Các đồng chí Dương Xuân An, Cù Thị Hậuđược bầu làm Phó Chủ tịch.

7. Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII (nhiệm kỳ 1993 – 1998)

Họp từ ngày 09 - 12/11/1993 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội xác định mục tiêu của hoạt động công đoàn trong những năm tới là “Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn; góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân, lao động”. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 125 ủy viên, Đoàn Chủ tịch gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các đồng chí Hoàng Minh Chúc, Nguyễn An Lương, Hoàng Thị Khánh được bầu làm Phó Chủ tịch.

8.  Đại hội  Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII (nhiệm kỳ 1998 – 2003)

Họp từ ngày 03 - 06/11/1998 tại Thủ đô Hà Nội. Mục tiêu của Đại hội là “Vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì việc làm, đời sống và quyền dân chủ của công nhân viên chức và lao động. Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh”. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 145 ủy viên, Đoàn Chủ tịch gồm 17 ủy viên. Đồng chí Cù Thị Hậu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; các đồng chí Nguyễn An Lương, Đặng Ngọc Chiến, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng được bầu làm Phó Chủ tịch.

9.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IX (nhiệm kỳ 2003 – 2008)

Họp từ ngày 10 - 13/10/2003 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã xác định khẩu hiệu hành động của Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ mới là “Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động, góp phần tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 155 ủy viên, tại Đại hội bầu 150 ủy viên, số còn lại sẽ bầu bổ sung trong nhiệm kỳ. Đoàn Chủ tịch gồm 19 ủy viên. Đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; các đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Nguyễn Hoà Bình, Nguyễn Đình Thắng, Đỗ Đức Ngọ, Đặng Ngọc Chiến được bầu làm Phó Chủ tịch. Tháng 12/2006 đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch. Tháng 9/2007 các đồng chí Hoàng Ngọc Thanh, Mai Đức Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Ngàng được bầu làm Phó Chủ tịch.

10.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ X (nhiệm kỳ 2008 – 2013)

Họp từ ngày 02 - 05/11/2008 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đề ra mục tiêu “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn các cấp hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động làm đối tượng vận động; chuyển mạnh hoạt động công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ; góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.

Đại hội nhất trí số lượng Ban Chấp hành gồm 165 ủy viên, tại Đại hội đã bầu 160 ủy viên, số còn lại sẽ bầu bổ sung trong nhiệm kỳ. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; các đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Hoàng Ngọc Thanh, Mai Đức Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Ngàng được bầu làm Phó Chủ tịch.

11. Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XI (nhiệm kỳ 2013 – 2018)

Họp từ ngày 27 - 30/7/2013, tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đề ra mục tiêu, phương hướng tổng quát trong nhiệm kỳ là “Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn theo hướng vì đoàn viên và người lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước; tập trung hướng về cơ sở, thực hiện tốt chức năng chăm lo đời sống, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động; tham gia có hiệu quả vào công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội; nâng cao công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục và tổ chức thi đua yêu nước trong đoàn viên và người lao động; đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, góp phần xây dựng giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội nhất trí số lượng ủy viên Ban Chấp hành gồm 175 ủy viên, tại Đại hội đã bầu 172 ủy viên, số còn lại sẽ bầu bổ sung trong nhiệm kỳ. Đoàn Chủ tịch là 27 Ủy viên. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; các đồng chí: Trần Thanh Hải, Mai Đức Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Ngàng, Trần Văn Lý được bầu làm Phó Chủ tịch.

Ngày 14/4/2016 đồng chí Bùi Văn Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch. Ngày 17/3/2017 đồng chí Trần Văn Thuật được bầu làm Phó Chủ tịch.

B. KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM LẦN THỨ XI (2013 - 2018)

1. Thực hiện nhiệm vụ đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đoàn viên và người lao động: Tổ chức công đoàn đã phát huy năng lực, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đoàn viên, trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật. Nhiều đề xuất của công đoàn đã được tiếp thu, góp phần quan trọng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên và người lao động, tiêu biểu là tham gia xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội, Luật An toàn vệ sinh lao động, Bộ luật Tố tụng Dân sự (sửa đổi); các nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn năm 2012, tham gia có hiệu quả trong Hội đồng tiền lương quốc gia …

Trong nhiệm kỳ đã ký kết được 27.866 bản thỏa ước lao động tập thể, tăng khoảng 5%, so với đầu nhiệm kỳ; Đề án xây dựng Thư viện thỏa ước lao động tập thể điện tử đạt được kết quả bước đầu. Bình quân hàng năm có 98% cơ quan, đơn vị tổ chức hội nghị cán bộ, công chức và 55% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn tổ chức hội nghị người lao động. Từ hơn 9.000 cuộc đối thoại định kỳ, hơn 400 cuộc đối thoại đột xuất năm 2014 đã tăng lên 30.641 cuộc đối thoại định kỳ, hơn 3.101 cuộc đối thoại đột xuất vào năm 2017...

2. Hoạt động chăm lo, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động: Công đoàn đã tích cực tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và tổ chức công đoàn; nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn đã được cụ thể hóa và đi vào cuộc sống. Nghị quyết của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn về “Chất lượng bữa ăn ca của người lao động” đã đạt kết quả bước đầu, có 2.281 công đoàn cơ sở đối thoại, thương lượng thành công nâng giá trị bữa ăn ca của 587.239 người lao động từ 15.000 đồng trở lên. Tổng Liên đoàn đã đề xuất và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đầu tư xây dựng các thiết chế của công đoàn tại các khu công nghiệp, khu chế xuất”, như: nhà ở, nhà trẻ, siêu thị, trung tâm văn hóa, tư vấn pháp luật...  đã từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động.

Chương trình phúc lợi cho đoàn viên công đoàn với điểm khởi đầu năm 2017 là năm “Vì lợi ích đoàn viên”, tạo bước chuyển biến quan trọng trong tư duy về hoạt động công đoàn theo hướng mang lại lợi ích thiết thực nhiều hơn cho người lao động là đoàn viên công đoàn, tạo sự khác biệt rõ nét so với người lao động chưa là đoàn viên công đoàn, gần 02 triệu đoàn viên, người lao động được hưởng lợi với trị giá 526 tỷ đồng.

Chương trình “Tết Sum vầy” được triển khai từ năm 2015, huy động các nguồn lực hỗ trợ, tạo điều kiện để người lao động được sum họp với gia đình; các cấp Công đoàn đã tổ chức chăm lo, tặng quà Tết, hỗ trợ vé tàu, xe đưa đón cho hơn 8 triệu lượt đoàn viên, người lao động có hoàn cảnh khó khăn, bị mất việc làm... với tổng số tiền hơn 8.500 tỷ đồng.

Chương trình "Mái ấm Công đoàn” đã được cấp công đoàn tích cực thực hiện, trong 5 năm qua, đã có trên 20 ngàn gia đình đoàn viên, người lao động nghèo được xây dựng nhà mới hoặc sửa chữa nhà ở với tổng số tiền hơn 500 tỷ đồng. Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm tiếp tục được nhân rộng, góp phần tạo việc làm của hơn 350.000 lao động mỗi năm. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của tổ chức Công đoàn đã nỗ lực vượt qua khó khăn và đào tạo được 165.000 người...

3. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục:  Các cấp công đoàn quan tâm tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn. Một số chương trình trọng tâm, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế xã hội của đất nước được tổ chức phong phú, đa dạng. Các cấp công đoàn thực hiện 647.203 cuộc tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn, thu hút 27.685.716 lượt công nhân, viên chức, lao động tham gia; biên soạn và phát hành khoảng 6 triệu tài liệu tuyên truyền tới đoàn viên, người lao động. Chỉ thị 03-CT/TW và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” được triển khai dưới nhiều hình thức đa dạng ở các cấp công đoàn. Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn đã quyết định triển khai bộ nhận diện Công đoàn Việt Nam với mong muốn thể hiện rõ hơn trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công đoàn trong thực hiện nhiệm vụ trước đoàn viên, người lao động.

“Tháng Công nhân”, hoạt động tiêu biểu của tổ chức Công đoàn đã dành được sự quan tâm, ghi nhận của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương, sự đồng thuận lan tỏa sâu sắc trong cán bộ, đoàn viên, người lao động và cộng đồng xã hội; sau 5 năm thực hiện, các cấp công đoàn tổ chức 19.352 lượt phát động, hưởng ứng “Tháng Công nhân”, thu hút 2,9 triệu lượt đoàn viên, CNVCLĐ tham gia; 573.772 lượt CNVCLĐ dược thăm hỏi, tặng quà với hơn 149 tỷ đồng; đặc biệt từ năm 2016 có 14.395 doanh nghiệp có tổ chức công đoàn cam kết “Quyền lợi đảm bảo, phúc lợi tốt hơn cho đoàn viên, người lao động... đồng hành cùng “Tháng Công nhân”, Tổng Liên đoàn phối hợp với các bộ, ngành, địa phươngtổ chức 3 cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng Chính phủ với công nhân vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Nam, khu vực miền Trung và khu vực phía Bắc (năm 2016, năm 2017 và năm 2018) với nội dung, phương thức tổ chức ngày càng hoàn thiện.

4. Phong trào thi đua yêu nước: Phong trào thi đua yêu nước trong CNVCLĐ có sự chuyển biến tích cực. Các cấp công đoàn đã cụ thể hóa phong trào thi đua “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, phong trào “Xanh- Sạch- Đẹp, Bảo đảm an toàn vệ sinh lao động”, phong trào “văn hóa, thể thao” đạt được một số kết quả thiết thực, tiêu biểu là phong trào thi đua liên kết xây dựng Nhà máy Thủy điện Lai Châu vượt tiến độ, hoàn thành sớm hơn một năm, làm lợi cho ngân sách Nhà nước trên 7.000 tỷ đồng...

Các cấp công đoàn đã tổ chức nhiều hình thức tôn vinh, khen thưởng động viên người lao động trực tiếp, cán bộ công đoàn cơ sở có thành tích xuất sắc trong hoạt động công đoàn. Giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh, Giải thưởng Tôn Đức Thắng... Đại hội Thi đua yêu nước CNVCLĐ toàn quốc lần thứ IX đã tôn vinh 486 cá nhân, tập thể trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn (2010 - 2015). Bảng xếp hạng doanh nghiệp vì người lao động được nâng lên thành Giải thưởng “Doanh nghiệp vì người lao động” đã góp phần động viên, khích lệ các doanh nghiệp cải thiện điều kiện, môi trường làm việc, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Tổng Liên đoàn tổ chức các Chương trình “Vinh quang Việt Nam - Dấu ấn 30 năm đổi mới”, tôn vinh 30 tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong 30 năm đổi mới; “Vinh quang Việt Nam - Dấu ấn những công trình”, tôn vinh 8 công trình kết tinh trí tuệ, bản lĩnh của những người lao động Việt Nam ....

5. Xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh: Chương trình phát triển đoàn viên giai đoạn 2013 - 2018 đã được các cấp công đoàn tập trung thực hiện. Tính đến ngày 30/11/2017, cả nước đã có 10.051.052 đoàn viên thuộc 126.313 công đoàn cơ sở; tăng so với đầu nhiệm kỳ hơn 2,1 triệu đoàn viên; hoàn thành chỉ tiêu của nhiệm kỳ trước thời hạn. Trong đó, có 44 công đoàn tỉnh, ngành đã triển khai phát triển đoàn viên theo phương pháp mới, thành lập 1.010 công đoàn cơ sở, kết nạp 97.231 đoàn viên.

Hàng năm, bình quân 90% công đoàn cơ sở cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp khu vực nhà nước đạt vững mạnh, 45 - 55% công đoàn cơ sở ở ngoài khu vực nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt vững mạnh, đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ra.

Công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, tăng cường hoạt động hướng về cơ sở đã đạt kết quả bước đầu. Trong nhiệm kỳ, có 63/63 địa phương hoàn thành việc sắp xếp lại công đoàn giáo dục cấp huyện và giải thể 83 công đoàn ngành địa phương có dưới 2.000 đoàn viên.

Chương trình “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ công đoàn” được tiến hành thường xuyên. Trong nhiệm kỳ đã đào tạo, bồi dưỡng 1.242.077 lượt cán bộ công đoàn các cấp.

Các cấp công đoàn đã tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Công đoàn chủ động tham gia các hoạt động giám sát, phản biện, góp ý xây dựng Đảng, giới thiệu cán bộ công đoàn tham gia cấp ủy, hội đồng nhân dân các cấp và Quốc hội khóa XIV. Các cấp công đoàn đã giới thiệu 415.160 đoàn viên ưu tú cho Đảng, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã có 336.533 đoàn viên ưu tú được kết nạp Đảng.

6. Công tác tài chính công đoàn:  Công tác tài chính công đoàn có nhiều chuyển biến tích cực, tập trung thực hiện những khâu đặc biệt quan trọng để đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả. Cơ chế quản lý, sử dụng tài chính công đoàn được xây dựng, ban hành kịp thời, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn.

7. Hoạt động kiểm tra công đoàn: Nhiệm kỳ qua, hoạt động của Ủy ban Kiểm tra có những chuyển biến quan trọng. Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn đã ban hành Nghị quyết về “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Ủy ban kiểm tra công đoàn”; Quy định thẩm quyền và thủ tục xử lý kỷ luật trong tổ chức Công đoàn; Quy chế hoạt động Đoàn kiểm tra của Ủy ban kiểm tra Công đoàn; Quyết định về “Công đoàn giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo” nhằm phát huy vai trò của Ủy ban kiểm tra công đoàn...

Từ năm 2013 đến nay, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã tiếp 36.376 lượt đoàn viên, tiếp nhận 25.354 đơn khiếu nại tố cáo, kết quả 87% đơn thuộc thẩm quyền của công đoàn và 78% đơn thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước đã được giải quyết, qua đó đã can thiệp, bảo vệ cho 4.013 người được trở lại làm việc, 962 người được hạ mức kỷ luật và 35.319 người được bảo vệ các quyền lợi khác.

8. Công tác đối ngoại: Hoạt động đối ngoại của tổ chức công đoàn Việt Nam đạt nhiều kết quả quan trọng; củng cố vị thế của Công đoàn Việt Nam trên thế giới; tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế trong lĩnh vực lao động, công đoàn vàbảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Công đoàn Việt Nam là thành viên chính thức của Liên hiệp Công đoàn thế giới (WFTU); là thành viên tích cực trong Hội đồng Công đoàn các nước ASEAN (ATUC); tham gia các hoạt động của Tổng Công đoàn quốc tế (ITUC); hợp tác với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), dự hội nghị của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).... Hiện nay, các cấp Công đoàn Việt Nam đã thiết lập quan hệ song phương với 65 tổ chức công đoàn trên thế giới và quan hệ với 20 tổ chức đa phương quốc tế…

9. Công tác nữ công: Tổng Liên đoàn đã cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về phụ nữ, bình đẳng giới, công tác gia đình và trẻ em, tích cực tham gia xây dựng chế độ, chính sách pháp luật liên quan đến lao động nữ, tham gia thực hiện các giải pháp giải quyết vấn đề trường, lớp mầm non ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành công đoàn các cấp so với nhiệm kỳ trước đã được nâng lên...

10. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ Công đoàn: Công đoàn các cấp có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; lãnh đạo công đoàn các cấp đã phát huy vai trò, trách nhiệm trước đoàn viên, người lao động trong việc giải quyết nhanh nhạy, kịp thời, sáng tạo các công việc thuộc thẩm quyền. Sự phối hợp trong hoạt động công đoàn theo ngành nghề, địa giới hành chính đã có sự gắn kết. Năng lực tham gia cơ chế chính sách, pháp luật, xây dựng văn bản chỉ đạo hoạt động công đoàn có bước phát triển. Công tác chuẩn bị, tham mưu ban hành văn bản, nghiên cứu đã được quan tâm, tập trung vào những vấn đề bức thiết, cụ thể; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo hướng giảm bớt thủ tục, giấy tờ; chất lượng các hội nghị, hội thảo có cải thiện. Đoàn Chủ tịch, Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn đã đổi mới công tác chỉ đạo điều hành trong phạm vi thẩm quyền, kịp thời đề ra một số chủ trương quan trọng đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Hội nghị Chủ tịch Công đoàn các ngành, địa phương được duy trì hiệu quả.

Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn đã có các cuộc làm việc với một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để báo cáo, đề xuất một số nội dung, chủ trương hoạt động của Công đoàn trong tình hình mới. Quy chế về mối quan hệ công tác, định kỳ hàng năm giữa Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn với Chính phủ được duy trì thường xuyên và đạt nhiều kết quả quan trọng. Các chương trình phối hợp hoạt động với các cơ quan ở trung ương tiếp tục phát huy hiệu quả.

Công tác nghiên cứu lý luận về công nhân công đoàn được quan tâm, nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp Tổng Liên đoàn được tổ chức nghiên cứu, nghiệm thu và có vận dụng vào thực tế. Cải cách hành chính của hệ thống công đoàn có kết quả. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của tổ chức Công đoàn tiếp tục được quan tâm và có sự chuyển biến. Việc tổ chức các hội nghị, hội thảo thông qua hình thức trực tuyến có những kết quả bước đầu.

C. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM NHIỆM KỲ 2018 – 2023

I. Mục tiêu

1. Mục tiêu tổng quát: Tập trung đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động công đoàn; lấy nhu cầu chính đáng của số đông đoàn viên, người lao động làm cơ sở hoạt động; lấy đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động làm mục tiêu hoạt động; lấy công đoàn cơ sở làm địa bàn chủ yếu. Tập trung các nguồn lực để xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh; chủ động thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình mới; đoàn viên gắn bó bền vững với tổ chức Công đoàn Việt Nam; cán bộ công đoàn chuyên nghiệp, bản lĩnh, trí tuệ, tâm huyết, trách nhiệm. Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, chuyên môn, ý thức pháp luật, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và tinh thần dân tộc cho đoàn viên, người lao động. Công đoàn đóng góp rõ nét, hiệu quả hơn trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng và an ninh, ổn định và cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

2.1. Chỉ tiêu thuộc trách nhiệm trực tiếp của tổ chức công đoàn

- Phấn đấu đến năm 2023 kết nạp 2 triệu đoàn viên; thành lập tổ chức cơ sở của công đoàn ở 100% doanh nghiệp có 25 công nhân lao động trở lên.

- Phấn đấu hàng năm có 80% trở lên công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đạt loại tốt; 80% trở lên công đoàn cơ sở khu vực nhà nước, 55% trở lên công đoàn cơ sở khu vực doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài nhà nước, nghiệp đoàn cơ sở, đạt tiêu chuẩn vững mạnh.

- Phấn đấu triển khai đầu tư xây dựng tối thiểu 50 thiết chế của tổ chức Công đoàn gồm nhà ở, nhà trẻ, siêu thị, chăm sóc y tế, trung tâm văn hóa, cơ sở vật chất về thể dục, thể thao, tư vấn pháp luật... tại các khu công nghiệp.

- Phấn đấu 100% công đoàn cơ sở khu vực hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước, 70% trở lên công đoàn cơ sở ngoài khu vực nhà nước thành lập được Ban Nữ công quần chúng theo qui định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam.

- Phấn đấu thu tài chính công đoàn đạt 90% trở lên so với số phải thu kinh phí và đoàn phí công đoàn theo qui định của Nhà nước và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

- Hàng năm, 100% công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tổ chức thực hiện việc kiểm tra tài chính cùng cấp.

2.2. Chỉ tiêu tổ chức Công đoàn phối hợp thực hiện

- Phấn đấu hàng năm có từ 98% trở lên cơ quan, đơn vị tổ chức hội nghị cán bộ, công chức; từ 95% trở lên doanh nghiệp nhà nước và 60% trở lên doanh nghiệp ngoài nhà nước tổ chức hội nghị người lao động; từ 90% trở lên doanh nghiệp nhà nước và 70% trở lên doanh nghiệp ngoài nhà nước tổ chức đối thoại tại cơ sở.

- Phấn đấu 100% doanh nghiệp nhà nước, 70% trở lên doanh nghiệp ngoài nhà nước có thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể, 80% trở lên thỏa ước lao động tập thể có nội dung có lợi hơn quy định của pháp luật cho người lao động, trong đó có 35% trở lên thỏa ước lao động tập thể đạt loại A.

- Phấn đấu hàng năm bình quân mỗi công đoàn cơ sở giới thiệu được ít nhất 01 đoàn viên công đoàn ưu tú cho Đảng xem xét, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

II. Phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2018 – 2023

1. Tập trung các nguồn lực và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp để củng cố, tăng cường sự gắn bó chặt chẽ với đoàn viên, người lao động, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đổi mới căn bản hoạt động chăm lo cho đoàn viên, người lao động theo hướng phát triển các chương trình xuyên suốt toàn hệ thống như một chính sách an sinh xã hội của công đoàn phục vụ trực tiếp và đúng đối tượng, thực hiện đồng bộ giữa trách nhiệm và thụ hưởng, gắn kết chặt chẽ hơn giữa đoàn viên và tổ chức công đoàn.

2. Thực hiện đồng bộ công tác tuyên truyền, vận động của tổ chức Công đoàn; tham gia xây dựng người lao động Việt Nam yêu nước, đoàn kết, nghĩa tình, lao động sáng tạo, tôn trọng pháp luật; phát triển các phương thức tuyên truyền có tác động nhanh, sức lan tỏa rộng và đưa các hoạt động văn hóa tinh thần đến đông đảo đoàn viên, người lao động.

3. Tiến hành phát triển đoàn viên bền vững. Tiếp tục đổi mới nhiệm vụ, phương pháp thu hút, tập hợp người lao động tham gia tổ chức công đoàn; phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn đi đôi với xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh; đổi mới, sắp xếp, kiện toàn mô hình, tổ chức, bộ máy công đoàn các cấp; chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn; đẩy mạnh công tác cán bộ; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.

4. Đổi mới việc tổ chức phong trào thi đua yêu nước theo hướng thiết thực, hiệu quả, sát hợp từng đối tượng, góp phần khẳng định vai trò của tổ chức công đoàn, của đoàn viên, người lao động trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

5. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp công đoàn trong tiến trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và đổi mới hoạt động nữ công, trọng tâm là các công đoàn cơ sở ngoài khu vực nhà nước, tạo sự chuyển biến tích cực trong việc giải quyết một số nhu cầu bức thiết của lao động nữ, phát huy vai trò lao động nữ tham gia phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới và xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh.

6. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại theo đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; đảm bảo an toàn, an ninh quốc gia, nâng cao vị thế và khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam; vì lợi ích đoàn viên, người lao động và vì sự phát triển của tổ chức Công đoàn.

7. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Kiểm tra công đoàn, góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phòng chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn; củng cố vững chắc uy tín của tổ chức và cán bộ Công đoàn.

8. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ công tác tài chính công đoàn theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả để tăng cường, phát huy các nguồn lực đáp ứng nhiệm vụ nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn; phục vụ tốt hơn nhu cầu chính đáng của đoàn viên, người lao động.

9. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong hoạt động Công đoàn theo hướng cấp trên phục vụ cấp dưới, tổ chức công đoàn phục vụ đoàn viên, người lao động; đồng thời, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và giải quyết kịp thời những bất cập, phát huy tốt hơn vai trò, trách nhiệm của ban chấp hành công đoàn các cấp trước đoàn viên, người lao động.

Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XII là Đại hội “Đổi mới, dân chủ, đoàn kết, trách nhiệm”, khẳng định quyết tâm của các cấp công đoàn, toàn thể cán bộ công đoàn tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, chủ động đổi mới tổ chức và hoạt động, xây dựng Công đoàn Việt Nam lớn mạnh, tạo bước phát triển mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho đoàn viên, thể hiện rõ nét nhiệm vụ đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, phát triển bền vững, phát huy vai trò quan trọng của công nhân, viên chức, lao động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng 07/08/2018

Nhân dịp kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2018), Cổng Thông tin điện tử Công an tỉnh Vĩnh Phúc trân trọng giới thiệu toàn văn bản Đề cương tuyên truyền kỷ niệm.  
 

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc 22/05/2018

Trân trọng giới thiệu toàn văn Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2018) do Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành kèm Hướng dẫn số 61-HD/BTGTW ngày 13/4/2018.
CỔNG THÔNG TIN - GIAO TIẾP ĐIỆN TỬ CÔNG AN TỈNH VĨNH PHÚC